Luật số 54/2014/QH13 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Theo đó, một số nội dung khá quan trọng của Luật đã được sửa đổi, trong đó có nội dung về Kiểm tra sau thông quan.

Những hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Hải quan hiện hành như: quyền và nghĩa vụ của công chức hải quan cũng như quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan khi thực hiện kiểm tra sau thông quan chưa được qui định cụ thể, rõ ràng; thủ tục, trình tự kiểm tra, thời gian kiểm tra, việc xử lý kết quả kiểm tra chưa được đưa vào thành một điều qui định trong Luật… Chính những hạn chế này đã gây ảnh hưởng không nhỏ trong việc thực thi nhiệm vụ của công chức hải quan, chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc hiện đại hóa, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan.

Một số nội dung mới về Kiểm tra sau thông quan, như sau:

Thứ nhất, các trường hợp kiểm tra sau thông quan, qui định tại Điều 78: Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu; Kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro đối với các trường hợp khác; Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan.

Luật Hải quan hiện hành qui định các trường hợp kiểm tra sau thông quan: Có dấu hiệu gian lận thuế, gian lận thương mại, vi phạm qui định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu; Kiểm tra căn cứ vào kết quả phân tích thông tin từ cơ sở sữ liệu, từ trinh sát hải quan, từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân, Hải quan nước ngoài để quyết định kiểm tra sau thông quan. Theo đó, Luật chưa bao hàm đầy đủ các dấu hiệu vi phạm liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; mặt khác hiện nay, các nguồn thông tin thu thập được trong toàn ngành hải quan hầu hết đều được tập trung về một đầu mối là quản lý rủi ro để phân tích, đánh giá, đưa ra những tiêu chí đảm bảo chính xác để cung cấp cho khâu thông quan hàng hóa thực hiện một cách nhanh chóng và minh bạch. Vì thế, việc áp dụng quản lý rủi ro đối với các trường hợp kiểm tra sau thông quan giúp khắc phục tình trạng gian lận, góp phần đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra sau thông quan theo Luật hiện hành còn quá chú trọng vào mục tiêu truy thu thuế, chưa đánh giá bao quát được sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Do đó, Điều 78 Luật Hải quan năm 2014 đã khắc phục những hạn chế trên.

Thứ hai, Địa điểm kiểm tra, qui định tại Khoản 2 Điều 77: tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan.

Về địa điểm kiểm tra sau thông quan, Luật Hải quan hiện hành không quy định mà những quy định này hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật, dẫn đến thiếu sự đồng bộ, áp dụng không thống nhất làm giảm hiệu lực của Luật Hải quan hiện hành. Chính điều này đã không tạo được cơ sở pháp lý vững chắc khi thi hành nhiệm vụ.

Thứ ba, Thẩm quyền ra quyết định kiểm tra, qui định tại Khoản 1 Điều 79 và Khoản 1 Điều 80: Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan. Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan.

Luật Hải quan hiện hành qui định: Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan. Trong trường hợp cần thiết, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định kiểm tra sau thông quan. Trong thời gian vừa qua, đã phát sinh một số trường hợp vướng mắc về thẩm quyền thực hiện như Luật chưa qui định cụ thể thẩm quyền kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan và tại trụ sở doanh nghiệp. Thực tế, với số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng (đến hết năm 2012 đã hơn 60.000 doanh nghiệp), các trường hợp phải kiểm tra sau thông quan rất lớn (năm 2006: có 542 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan; 17 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp. Đến năm 2012: có 2.247 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan; 322 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp)[1]. Do đó, cần có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan để tăng cường hiệu quả của hoạt động này. Việc đưa nội dung này vào Luật Hải quan năm 2014 là hết sức cần thiết, đảm bảo tính pháp lý cao. 

 Thứ tư, Thủ tục, trình tự kiểm tra, thời gian kiểm tra, việc xử lý kết quả kiểm tra, qui định tại Điều 79, Điều 80.

Luật Hải quan hiện hành không qui định cụ thể những nội dung này mà giao Chính phủ quy định cụ thể. Các nội dung nói trên hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật, vì thế qua một thời gian thực hiện, để giảm bớt thủ tục rườm rà, hạn chế việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật, đồng thời đảm bảo tính pháp lý, ngắn gọn và đầy đủ của Luật, các nội dung này đã được đưa vào Luật Hải quan mới một cách rõ ràng, đầy đủ.

Thứ năm, Quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan trong kiểm tra sau thông quan, quy định tại Điều 81, Điều 82.

Luật Hải quan hiện hành chỉ quy định: Trong quá trình kiểm tra, theo yêu cầu của cơ quan hải quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp chứng từ kế toán, thông tin, tài liệu cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra của cơ quan hải quan. Theo đó, Luật Hải quan hiện hành chưa nói đến nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan trong kiểm tra sau thông quan; nghĩa vụ của người khai hải quan được quy định mang tính chung chung và còn chưa đầy đủ; dẫn đến nhiều bất cập khi triển khai thực hiện, khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc yêu cầu cung cấp thông tin có liên quan, cũng như xác định trách nhiệm của mỗi bên. Để khắc phục, Luật Hải quan năm 2014 đã làm rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) thì “Trong điều kiện hiện nay việc duy trì và phát triển hệ thống Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) của ngành hải quan là tuyệt đối cần thiết vì một hệ thống KTSTQ đủ mạnh có thể ngăn chặn và phát hiện mọi hình thức gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận về trị giá hải quan, cho dù hệ thống trị giá hải quan đó được xác định theo bất cứ phương pháp nào”[2]. Như vậy, có thể nói Kiểm tra sau thông quan có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nhà nước về Hải quan. Chính vì lẽ đó, những thay đổi mới của Luật Hải quan năm 2014 về kiểm tra sau thông quan là cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra sau thông quan; đảm bảo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu; ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, tạo sự cạnh tranh công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh./.

                                                                                                                                                                            Hoàng ThịNamHương

(Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục KTSTQ)

Bài ngẫu nhiên

Bổ sung thẩm quyền thanh tra cho Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Đó là ý kiến phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Xử...
Lúng túng xử phạt vi phạm hành chính
Hải quan Hải Phòng đang lúng túng khi xử lí một trường hợp vi phạm hành chính đối với hành vi “kinh doanh hàng hóa...
Quảng Trị: Khởi tố vụ án buôn lậu, chống người thi hành công vụ
Ngày 14-3-2012, Công an huyện Cam Lộ đã hoàn tất hồ sơ, khởi tố vụ án buôn lậu, chống người thi hành công vụ xảy...
Hải quan TP.HCM: Tập trung cao điểm phòng chống ma túy.
Cục Hải quan TP.HCM vừa ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện “Tháng hành động phòng, chống ma tuý” năm 2012, với...
Dầu, mỡ bôi trơn không được phân loại theo máy chính
Tổng cục Hải quan vừa có công văn 4800/TCHQ-TXNK tháo gỡ vướng mắc cho Cục Hải quan Cao Bằng trong việc phân loại, áp...
Giải đáp một số vướng mắc về thủ tục hải quan
Trước vướng mắc của Hải quan một số tỉnh, thành phố về thủ tục hải quan trên Hệ thống VNACCS/VCIS, việc tạm...
Cục HQQB mở khóa đào tạo nghiệp vụ khai Hải quan điện tử từ ngày 19/04 đến 01/06/2014
Nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ khai hải quan cho doanh nghiệp và đáp ứng điều kiện “người khai hải quan điện...