Nhiều ý kiên băn khoăn về thời gian nộp Hồ sơ Nhiều ý kiên băn khoăn về thời gian nộp Hồ sơ Theo quy định hiện hành tại Điều 22 Luật Hải quan, hồ sơ hải quan gồm 5 loại giấy tờ: Tờ khai, hoá đơn thương mại, hợp đồng mua bán, giấy phép XNK (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy, một số loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần để quản lý trong một số trường hợp cần thiết.

Sẽ bổ sung quy định về hồ sơ hải quan

Theo quy định hiện hành tại Điều 22 Luật Hải quan, hồ sơ hải quan gồm5 loại giấy tờ: Tờ khai, hoá đơn thương mại, hợp đồng mua bán, giấy phép XNK (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy, một số loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần để quản lý trong một số trường hợp cần thiết.

Mặt khác, tại Điểm a Khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan hiện hành quy định, người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Quy định này không phù hợp với việc thực hiện khai và nộp hồ sơ bằng phương thức điện tử do các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan có dung lượng lớn, làm chậm tốc độ xử lý của hệ thống, hệ thống cũng chỉ xử lý được các thông tin trên tờ khai, chưa thể xử lý được các thông tin trên chứng từ thuộc hồ sơ khai hải quan. Như vậy, việc nộp các chứng từ đi kèm tờ khai chỉ cần thiết đối với trường hợp kiểm tra chi tiết hồ sơ để xác định tính chính xác của việc khai hải quan. Việc yêu cầu nộp ngay các chứng từ đi kèm tờ khai khi đăng ký tờ khai đối với trường hợp miễn kiểm tra hồ sơ là không cần thiết, chưa thực sự tạo thuận lợi cho DN.

Luật Hải quan hiện hành quy định chung việc khai trên tờ khai hải quan đối với hàng hoá XNK và chưa có quy định riêng đối với trường hợp đặc thù. Trường hợp hàng hoá trị giá thấp nhưng vẫn phải khai đầy đủ các tiêu chí như những lô hàng XNK thông thường, phải nộp thuế mặc dù mức thuế thấp, trong khi chi phí hành chính để kê khai, thu, nộp thuế có thể cao hơn.

Để nhằm khắc phục những nhược điểm nêu trên, đồng thời tham khảo quy định tại Công ước Kyoto sửa đổi, Luật Hải quan một số nước như Malaysia và Nhật Bản, trên cơ sở chuẩn hoá thủ tục hải quan, Ban soạn thảo dự kiến sẽ bổ sung quy định về hồ sơ hải quan như sau:

Quy định chung về hồ sơ hải quan bao gồm: Tờ khai hải quan và các giấy tờ chứng minh thông tin khai trên tờ khai. Hồ sơ hải quan đối với từng loại hình hàng hoá sẽ được quy định cụ thể tại các điều về thủ tục hải quan đối với từng loại hình hàng hoá XNK, trong đó quy định tách bạch giữa hồ sơ hải quan đối với hàng hoá XK và hồ sơ hải quan đối với hàng hoá NK.

Bên cạnh đó cũng quy định thời hạn nộp chứng từ thuộc hồ sơ hải quan là khi cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hoá hoặc kiểm tra sau thông quan. Đối với trường hợp miễn kiểm tra hồ sơ, người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm trong vòng 7 ngày kể từ ngày cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan.

Cùng với đó, sẽ quy định chỉ sử dụng tờ khai đơn giản đối với hàng hoá trị giá dưới 1 triệu đồng.

Cân nhắc thêm một số nội dung

Đồng ý với hướng sửa này, Cục Hải quan Quảng Ninh cho rằng, với mỗi loại hình XNK cần có quy định cụ thể về hồ sơ hải quan. Cần xác định phải giảm bớt giấy tờ theo tinh thần CCTTHC, chỉ nên quy định những giấy tờ, chứng từ thực sự cần thiết cho việc làm thủ tục hải quan mà không thể bỏ bớt đi được.

Theo Cục Hải quan Bình Định, việc sửa này phù hợp với việc khai và nộp hồ sơ hải quan theo phương thức điện tử, phù hợp với mục tiêu CCTTHC, giảm thành phần hồ sơ, tiết kiệm chi phí, thời gian cho người dân và DN, minh bạch, thống nhất các quy định của pháp luật về hồ sơ hải quan.

Tuy nhiên, Hải quan Bình Định cho rằng, việc quy định thời hạn nộp chứng từ đối với trường hợp miễn kiểm tra hồ sơ là 7 ngày kể từ ngày cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan là quá ngắn, chưa phù hợp, vì trên thực tế việc thu thập chứng từ của DN là phức tạp, cần nhiều thời gian. Vì vậy, nên quy định là 30 ngày kể từ ngày cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan mới phù hợp.

Có cùng kiến nghị như trên, Cục Hải quan Hải Phòng cho rằng, đối với quy định hàng thuộc diện miễn kiểm tra phải nộp chứng từ trong thời hạn 7 ngày sẽ phát sinh thêm nhiều công việc cho cơ quan Hải quan trong vấn đề theo dõi, đối chiếu… Vì vậy, quy định này cần cân nhắc thêm để đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai.

Tuy nhiên, ý kiến của Cục Hải quan Quảng Bình và Cục Hải quan Khánh Hoà lại đề nghị bỏ quy định phải nộp hồ sơ hải quan (hồ sơ giấy) trong vòng 7 ngày, mà nên quy định đối với những trường hợp cơ quan Hải quan yêu cầu, theo đó, cần phải sửa lại như sau: “Trường hợp khi làm thủ tục hải quan được miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, khi cơ quan Hải quan yêu cầu thì người khai hải quan phải nộp hồ sơ hải quan (hồ sơ giấy) trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan Hải quan”.

Bởi theo hai đơn vị này thì, việc lưu trữ hồ sơ là trách nhiệm của DN đã được quy định tại Điều 18 Luật Hải quan, DN có trách nhiệm phải nộp hoặc xuất trình phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra khi cơ quan Hải quan yêu cầu. Mặt khác, hiện nay có đến trên 70% tờ khai được phân luồng Xanh (miễn kiểm tra hồ sơ hải quan), nếu quy định như dự thảo Luật sẽ gây khó khăn cho DN (đối với những DN ở xa), đồng thời tăng khối lượng công việc cho cơ quan Hải quan trong việc theo dõi, đôn đốc việc nộp hồ sơ.

Cùng có ý kiến như hai đơn vị trên, Cục Hải quan Đồng Nai cho rằng, việc quy định nộp hồ sơ hải quan trong vòng 7 ngày… như dự thảo còn nhiều bất cập, vì khi nộp hồ sơ, DN chưa xác định được hàng hoá sẽ phân vào luồng nào nên hầu hết DN sẽ nộp hết chứng từ khi đăng ký tờ khai (nếu có) để không phải nộp nhiều lần. Do đó, cũng không giải quyết được mong muốn khi đưa ra quy định này là nhằm giảm bớt chứng từ, giảm dung lượng hồ sơ điện tử.

Ở một khía cạnh khác, Cục Hải quan Hà Nội góp ý, quy định về hồ sơ hải quan cần bổ sung thêm: Hợp đồng thương mại (vì đây là căn cứ pháp lý để xem xét hoạt động mua bán giữa các bên); hoá đơn thương mại (căn cứ pháp lý để xem xét việc thanh toán, xác định trị giá); bảng kê đóng gói hàng hoá là chứng từ cơ bản trong bộ hồ sơ hải quan (đối với các trường hợp hàng hoá đóng gói không đồng nhất). Vì trong thương mại, bảng kê đóng gói hàng hoá là biểu hiện sự minh bạch của người tham gia hoạt động thương mại. Hơn nữa, trong thực tế làm công tác hải quan, bảng kê đóng gói hàng hoá giúp cho cơ quan Hải quan phát hiện ra sự thiếu minh bạch, lập lờ dẫn đến gian lận của chủ hàng về số lượng, chủng loại hàng hoá XNK…

Theo Hải quan Online.

Bài ngẫu nhiên

Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức khối cơ quan Tổng cục Hải quan
Ngày 18/1/2012, Tại trụ sở cơ quan, Tổng cục Hải quan tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức khối cơ quan...
Hội thảo quốc gia về Danh mục phân loại hàng hoá HS 2012
Tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan khu vực Trung Đông đồng tổ chức Hội thảo quốc gia về Danh mục phân loại...
Lãnh đạo Tổng cục Hải quan gửi lời chúc mừng đến công chức làm công tác Tổ chức cán bộ ngành HQ
Nhân kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tổ chức nhà nước (28/8/1945-28/8/2015), lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã...
Lãnh đạo Tổng cục Hải quan sẽ giao lưu trực tuyến về VNACCS
Theo dự kiến, trong tháng 3-2014, Báo Hải quan sẽ  tổ chức buổi giao lưu trực tuyến trên Báo Hải quan điện tử (tại...
Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn thăm và làm việc tại Cục Hải quan Hà Tĩnh
Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ, chiến sĩ làm việc tại cửa khẩu quốc...
Tổng cục Hải quan đôn đốc thực hiện ASW và NSW
Văn phòng Chính phủ vừa đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan-cơ quan thường trực Ban chỉ đạo quốc...
Áp dụng tình tiết vi phạm nhiều lần khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan
Trong khoa học pháp lý, vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách...