Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2020. Để quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2019, ngày 19/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 05/12/2020. Với nhiều điểm mới, hai văn bản này có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hoạt động thực thi pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước. Để triển khai thực hiện thống nhất quy định của Luật Quản lý thuế và Nghị định trong toàn ngành, ngày 25/11/2020, Tổng cục Hải quan đã tổ chức Hội nghị tập huấn trực tuyến. 

 Hình ảnh buổi tập huấn tại điểm cầu Hải quan Quảng BìnhHình ảnh buổi tập huấn tại điểm cầu Hải quan Quảng Bình

Việc ban hành Luật Quản lý thuế năm 2019 đã đảm bảo tính kế thừa những quy định vẫn còn giá trị thực hiện của Luật Quản lý thuế năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2012, đồng thời, bổ sung các quy định mới nhằm đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới, cải cách thủ tục hành chính, phù hợp với cam kết quốc tế trong quy trình hội nhập quốc tế. Theo đó, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP được ban hành là cần thiết nhằm quy định chi tiết 28 Điều, khoản, điểm của Luật Quản lý thuế (ngoại trừ nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và hóa đơn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan).

Hội nghị đã tập trung giới thiệu các nội dung mới của Luật Quản lý thuế và Nghị định. Luật Quản lý thuế gồm 152 điều, được bố cục thành 17 chương (trong đó được bổ sung thêm 3 chương mới là chương II, chương X và chương XII). Trong đó, nhấn mạnh những nội dung sửa đổi bổ sung chủ yếu của Luật Quản lý thuế liên quan đến hải quan như: Quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1, Điều 2); những hành vi bị cấm trong quản lý thuế để đảm bảo công khai, minh bạch bình đẳng và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế (Điều 6); bổ sung quy định về nhiệm vụ quyền hạn cơ quan kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước trong công tác quản lý thuế (Điều 21, Điều 22); thủ tục khai thuế, tính thuế (Chương IV); ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 52); thời hạn nộp thuế (Điều 55); xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế (Điều 59); xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa (Điều 60); hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh (Điều 66);....

Mục tiêu của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP hướng tới văn bản luật có tính thực tiễn cao, bao quát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan liên quan, cũng như quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế. Đồng thời tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi và phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đặc biệt, tạo cơ sở cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện nghiêm quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế theo quy định pháp luật, tích cực phòng chống tham nhũng, tiêu cực.